|
MƯỜI HAI CON
GIÁP
Nước ta hiện nay đang tồn tại
hai loại lịch : trong khi du lịch đang
có xu hướng lan rộng thì âm lịch
vẫn tiếp tục khẳng định vị
trí và sức mạnh của nó trong
đời sống tâm linh của dân tộc
. Âm lịch gắn liền với tế tự
, lễ hội , với sinh hoạt ma chay , cưới
gả , dựng nhà , dựng cửa ...
Và cứ mỗi lần tết Nguyên Ðán
về , người ta lại nghênh đón
một con vật mới và lưu luyến
tiễn đưa con vật biểu trưng của
năm củ đã đi về quá khứ
với lời hẹn gặp lại sau 12 năm
. Việc chọn các con vật làm biểu
tượng đứng đầu mỗi năm
- tức là 12 con giáp - phải chăng
là một sự ngẫu hứng , tuỳ tiện
hay là nó tuân theo một quy luật nhất
định nào đó ?
Trước hết , ta phải thừa nhận
dân tộc nào cũng có quan niệm
, cũng có cảm thức về thời gian
, nhưng không phải nước nào cũng
làm được lịch , cũng có chuẩn
mực về lịch . Lịch Pháp gắn liền với
thiên văn , với chiêm tinh học , là
sản phẩm quan trọng mà các nền
văn minh tối cổ như Trung Hoa , Ai Cập
, Babilon , Hy Lạp .đạt được
. Có thể nói rằng chính vẻ đẹp
hùng vĩ của bầu trời ban đêm
góp phần quan trọng cho tư thế của
con người mãi mãi đứng thẳng
, giúp con người hoàn thiện dần
để trở thành Con Người viết
hoa . Ngưỡng mộ vẻ đẹp của
bầu trời sao còn thúc đẩy con
người vươn tới khát vọng
chinh phục vũ trụ , một khát vọng
mang tính chất định mệnh của
nhân loại . Về điều này , các
huyền thoại xưa về Ica , về chiếc
thảm bay , về Hậu Nghệ xạ nhật
, Nữ Oa vá trời , Phù đổng thiên
vương về trời sau khi dẹp xong giặc
ngoại xâm , Chử Ðồng Tử và
Tiên Dung trở về thượng giới
. Thật vô cùng đẹp đẽ
và mang tinh thần nhân văn . Mười
hai con giáp , về nhiều mặt cũng mang
vẻ đẹp đó.
Thứ hai , nước ta không có lịch
(Sau này các triều đại ta có làm
lịch khác với lịch Trung Quốc , nhưng
vẫn từ cách nhìn chung . Tuy nhiên
, vấn đề này còn để ngỏ
để chờ nghiên cứu thêm các
tài liệu thời cổ sử . ) Âm lịch
mà chúng ta sử dụng có nguồn
gốc từ Trung Quốc và được
hoàn thiện , bổ sung bởi thực tiễn
kinh nghiệm sản xuất ,kinh nghiệm thiên
văn của dân tộc ta. Nói chung việc
giao thoa văn hoá giữa các nền văn
minh bao giờ cũng xảy ra với những
thành tựu về nhiều lãnh vực
. Dân tộc này vay mượn của dân
tộc khác những sản phẩm hoàn
thiện hơn , mang tính thực tiễn cao
hơn . Nhấn mạnh điều này để
thấy rằng muốn hiểu được
mười hai con giáp thì phải trở
về với cội nguồn Trung Hoa của nó
, trở về với triết học Trung Hoa
cổ xưa , đặc biệt là thuyết
Âm Dương Ngũ Hành .
Thứ ba , các cách gọi , cách định
danh ngoài ý nghĩa biểu tượng
cụ thể , chúng còn mang sức mạnh
khái quát rất lớn . Chúng trở
thành các "ký hiệu thông tinh "để
chứa các nội dung thông tin theo một
cách mã hoá thông tin nào đó,
vì thế , giải thích việc mười
hai con giáp không tách rời việc giải
mã này .
o0o
Âm Dương Ngũ Hành gắn liền
với tư duy Dịch lý là nền tảng
để xây dựng các quan điểm
trong đó có thiên văn . Người
xưa xuất phát từ quan sát thực
tiễn để định dạng sự vật
:
Âm là thái âm tức là Mặt
trăng
Dương là Thái dương tức
là Mặt trời
Ngũ hành là Kim , Mộc , Thuỷ ,
Hỏa ,Thổ
Là năm hành tinh mà người cổ
đại sớm nhận biết được
cuả hệ mặt trời . Bên cạnh
đó , quan niệm Trời = cha , Ðất=
mẹ và quan niệm về một vũ trụ
hài hoà cũng đóng vai trò quan trọng
đối với người xưa . Và như
vậy Trời = thiên là dương , Ðất
= địa là âm , thượng giới
và hạ giới được phân định
, trật tự của vũ trụ được
xác lập và trật tự xã hội
cũng theo đó được hình thành
. Trong xã hội có quan hệ vua - tôi
, quân tử - tiện dân , có nội
trị - ngoại giao , trong - ngoài ,trên
- dưới , trước - sau , phải
- trái , đúng - sai , thật- giả
. tất cả đều được quy
tụ vào phạm trù âm dương
, được quy vào các phẩm chất
ngũ hành . Tuy nhiên , sự phân chia
âm - dương không phải thùân
tuý máy móc mà nó xuất phát
từ nguyên lý của dịch học : : "Dịch có thái cực , thái cực
sinh lưỡng nghi , lưỡng nghi sinh tứ
lượng , tứ lượng sinh bát quái
" , nghĩa là trong sự xếp đặt
đó đã bao hàm một sự vận
động biện chứng , đặc biệt
là quan niệm trong "âm có dương
, trong dương có âm " trỡ thành
nguyên tắc cấu trúc sự vật .
Do đó , khát vọng về một cuộc
sống hiền hòa , một xã hội ổn
định , một trạng thái cân bằng
là giấc mộng đẹp và là đích
hướng tới , của người xưa
. Vậy thì quan niệm âm dương ngũ
hành có liên quan gì đến mười
hai con giáp .
Theo sự phân tích của người
xưa , mưòi hai con vật được
tuyển chọn , bao gồm cả vật nuôi
lẫn thú vật hoang dã , vừa có
thật vừa tưởng tượng , đều
đáp ứng nguyên tắc âm dương
, chẵn lẽ . Ở đây cũng cần
nói thêm về dương cơ , âm
ngẫu , cơ là số lẽ , ngẫu là
số chẵn . Các con vật được
chọn đều có phẩm chất chẵn
lẽ mang đặc trưng loài của chúng
, thể hịên qua số ngón chân của
chúng . Cụ thể là :
Tý = con chuột = 5 ngón = lẻ
= dương .
Sửu = con trâu (trong thiên văn Trung
Quốc nghĩa là ngưu = con bò ) = 2 ngón
= chẵn = âm
Ngọ = con ngựa = một ngón =
lẻ = dương
Mùi = con dê = hai ngón = chẵn
= âm
Thân = con khỉ = năm ngón = lẻ
= dương
Dậu = con gà = bốn ngón = chẵn
= âm
Tuất = con chó = năm ngón = lẻ
= dương
Hợi = con lợn = bốn ngón = chẵn
= âm
Như vậy
, số ngón tối đa là 5 , tối thiểu
là 1 , còn lại là 2 và 4 . Tuyệt
nhiên không có số 3.
Số 3 được đưa
vào hệ tam tài : Thiên - Ðịa
- Nhân , hệ tọa độ quan trọng
mà người xưa xác nhập được
nhằm khẳng định vai trò của
nó trong vũ trụ . Con người luôn
có ý thức dùng kích thước
vũ trụ để đo bản thân .
Vì thế , người Hy Lạp cổ mới
mãn nguyện về việc "con người
sánh tựa thần linh " , và họ sáng
tạo ra thế giới điêu khắc có
một không hai để ca ngợi vẻ
đẹp này . Con người không hề
ích kỷ khi cố gắng hoàn thiện
bức tranh vũ trụ . Họ đưa các
con vật thực vừa huyền thoại tạo
ra sự đúng lúc cho thế giới nhân
quần , nhưng đồng thời đó
cũng là những con vật mà họ thuần
hoá hoặc những con vật họ thường
gặp và thường gây những nguy
hiểm cho họ .
Như vậy , tiêu chuẩn số
chẵn lẻ của ngón chân đã
gíup các loài vật được chọn
làm 12 con giáp . Nhưng số ngón chẵn
lẻ cũng như cái tên chuột , mèo
, rồng , rắn .của chúng chưa đủ
để đưa chúng vào vũ trụ
. Con người lại phải gán cho chúng
các phương vị :
Tý = Bắc Ngọ = Nam
Mão = Ðông Dậu = Tây .
Và hàng đêm khi quan sát
sao Bắc Ðẩu , người ta thấy
cái đuôi của nó cứ quay đều
đặn trên tinh cầu theo một vòng
tròn , duy có điều nó giống kim
đồng hồ quay ngược . Vòng tròn
đó được chia theo phương vị
12 cung và 12 con giáp được trấn
giữ 12 phương vị này .
Chuyện vẫn chưa hết .Trong
những phát hiện quan trọng của thời
tối cổ có việc phát hiện ra
đường hoàng đạo -đường
dịch chuyển của mặt trời .Vòng
Hoàng đạo được chia làm phù
hợp với mười hai tháng của năm
.Và 12 con giáp lại được trấn giữ
12 cung Hoàng đạo này .
Tuy nhiên con số 12 được người
xưa chọn không phải là một con
số tuỳ tiện mà là một con số
hoàn toàn khoa học và để hiểu
được diều đó thì không
đơn giản lúc nào20.
Cóliên quan 12 cung Hoàng đạo
cần phải kể đến Ngũ Hành:
năm hành tinhKim Mộc Thuỷ Hoả Thổ
,trong chu kỳ vận hành của sao Mộc
mà người phương Tây đặt
tên là Juypiter được người
xưa ghi nhận bởi tính đặc hiệt
của nó . Sao Mộc vận hành xung quanh
Mặt Trời trọn 12 năm . Mỗi năm
nó xuất hiện một phương vị
nhất định . Nơi do trong12 con giáp
đang trấn giữ . Tên gọi của
nó cũng từ đó mà ra vì thế
sao Mộc được gọi là ssao Tuế
(sao năm) và vì nó là hành tinh
lớn nhất trong hệ Mặt Trời và
của các hành tinh mà người xưa
quan sát được nên nócòn gọi
làsao Thái Tuế . Vùng sao Thái Tuế
là một mã thông tin quan trọng của
phép tính tính tử vi.
ooo
Liên quan đến việc chọn
mười hai con giáp là những quan sát
, những nhận xét về cuộc sống của những
loài vật này .Vào những khoảng
giờ nhất định , các loài vật
-ta chỉ giới hạn trong mười hai
con giáp -chịu sự tác động qua
lại của các lực vũ trụ đã
có các biểu hiện trạng thái sống
khác nhau . Cái trạng thái xấu nhất
cho sự sống còn của chúng được
biểu hiện bằng các khoảng thời
gian (giờ , ngày , tháng, năm ) và được
gọi theo tên của chúng . Cụ thể
:
| Tên giờ
: |
Ảnh hưởng
xấu tới : |
| Tý |
Chuột |
| Sửu |
Trâu |
| Dần |
Hổ |
| Mão |
Thỏ |
| Thìn |
Rồng |
| Tỵ |
Rắn |
| Ngọ |
Ngựa |
| Mùi |
Dê |
| Thân |
Khỉ |
| Dậu |
Gà |
| Tuất |
Chó |
| Hợi |
Lợn |
Chúng ta
thử kiểm nghiệm điều này vì
các con vật này không xa lạ với
chúng ta . Tất nhiên trừ con rồng
huyền thoại .
Cũng có thể do quan sát đời
sống của các loài vật mà người
đi đến chỗ thống kê đặc
điểm sinh học của chúng , từ
đó khái quát thành mười hai
con giáp . Ðặc biệt người xưa
chú ý tới các thời điểm
có vấn đề của con vật :
Tháng Tý = tháng mười
một : loài chuột hay bị bệnh và
chết . Thực tế còn cho thấy đây
là tháng bắt đầu lạnh nhiều
, đồng ruộng vào vụ cày bừa
, chuột không có ăn và không chống
nổi rét nên dễ chết .
Tháng Sửu = tháng mười
hai, tháng chạp : tháng rét đậm
với đại hàn , tiểu hàn cây
cỏ tàn lụi . Ăn không đủ
mà còn phải kéo cày nữa nên
loài trâu sinh bệnh mà chết .
Tháng Dần= tháng giêng
: thức ăn của hổ là các loài
thú khác . Tháng này các loài ăn
cỏ như hươu nai đi kiếm ăn
vì cỏ tranh đã nhú mầm . Hổ
cũng đi tìm mồi , dẩm phải các
mầm cỏ tranh nhọn cứng mà bị
thương và kéo theo cái đói
nên dễ bệnh .
Tháng Mão = tháng hai :Mão
là con mèo , nhưng trong thiên văn cổ
Trung Quốc thì biểu tượng của
tháng này là con thỏ . Tiết này
là tiết kinh trập (sâu nở) và
cùng với sâu là chất độc
do sâu thải ra , thỏ ăn vào tất
phải chết .
Tháng Thìn =tháng ba : Rồng
là một con vật của huyền thoại
, nhưng khi được xác định
(cho dù chỉ là tưởng tượng
) thì tất yếu nó cũng có đời
sống riêng , kể cả ốm đâu
, bệnh tật và cái chết nhưng
tháng này Rồng có bị bệnh không thì không ai biết
. Nhưng nếu trở lại cội nguồn
huyền thoại thì có thể hiểu
được phần này . Rồng là
một con vật được giao phó làm
mưa , đi liền với sấm sét . Cha
ông ta có câu tục ngữ : tháng
ba sấm chạy . phải chăng vì trách
nhiệm nặng nề này mà con rồng
dễ bị gặp những điều không
may ?
Tháng Tỵ =tháng tư
: Sau thời kỳ ngủ tránh rét và
liền sau đó là mưa xuân ấm
áp , thức ăn dồi dào , rắn phải
lớn lên bằng cách lột xác . Trong
thời kỳ lột xác , rắn yếu nhất
và là miếng mồi ngon cho các con vật
khác .
Tháng Ngọ = tháng năm
: Mùa hè nóng nực , lại là thời
kỳ thu hoạch mùa màng nên ngựa
phải làm việc nhiều , dễ mắc
bệnh mà chết .
Tháng Mùi=tháng sáu
:Loài sơn dương dễ mắc bệnh
vì thức ăn không còn ngon lành
nữa : lá cây già cứng , mưa nhiều
và thất thường nên khả năng
mắc bệnh .
Tháng dậu=tháng tám:đầu
tháng lụt lội,cúi tháng gió heo
may,gà vừa đói vừa rét, ôn
dịch phát sinh và gà chết.
Tháng tuất=tháng chín
: tháng này chó hay bị mắc bệnh
. Kinh nghiệm dân gian Nghệ Tĩnh cho thấy
tháng này trùng hợp với mùa mưa,
chó rất hay chết. Ðặc biệt nếu
chó đẻ vào tháng này thì chó
nuôi rất khôn.
Tháng hợi=tháng mười
: gió đông bắc về mang theo các
mầm bệnh . Lễ hội mở ra, trâu,
bò,lợn,khỉ bị giết nhưng điều
kiện vệ sinh không tốt nên lợn
được các khoảng thức ăn
thừa thì tất nhiên rất dễ nhiễm
bệnh và chết .
Tất cả nhận xét trên
đây đều cho thấy sự quan sát
tỉ mỉ của người xưa cũng
như sự quan tâm tới môi trường
, tới thiên nhiên của họ. Quan sát
và tưởng tượng là hai phẩm
chất quí giá của con người .
Quan sát để rút ra các bài học
kinh nghiệm bổ ích . Tưởng tượng
để cuộc đời cao đẹp hơn
. Bạn hãy tự kiểm nghiệm về
bản thân mình , biết đâu những
ghi nhận hàng ngày của bạn liên
quan đến tuổi tác của bạn, phối
hợp với nhịp sinh học của bản
thân lại trở nên hữu ích và
vô cùng cho chính bạn .
Câu chuyện mười hai con
giáp sẽ thiếu sót nếu không đề
cập đến can chi . Can chi là hệ đếm
số 60,nó phối hợp các hệ đếm
cơ số 2,10,12 và một hệ đếm
liên quan tới nhiều nền văn minh cổ
. Người Babilon cách đây 3000 năm
với hệ đếm 60 đã chính xác
một năm có 360 ngày . Với hệ
đếm 60 hệ can chi dẫn đến các
tiện lợi cho phép tính thời gian vì
60 là bộ số của nhiều số như
:
Số 3 =số tháng trong một quí
Số 6=số tháng trong nửa năm
Số 10=số ngày trong một tuần
trăng (âm lịch)
Số 12=số tháng của một năm
-số năm của một con giáp
số giờ trong một ngày (giờ âm
lịch)
số 15=số ngày trong một tiết
số 30=số ngày của một tháng.
Hệ
đếm này xuất hiện từ lâu,
được ghi lại trong giáp cốt văn.
Can có nghĩa là thân cây
có gốc ở Trời (nên gọi là
Thiên can) . Người ta dùng ngũ vận
để tính Thiên căn : tức là
2 x 5=10 Thiên can . Bản thân Thiên can cũng
có âm dương :
Dương can :Giáp, Bính, Mậu,
Canh, Nhâm.
Âm can : Ất, Ðinh, Kỷ, Tân,
Quí.
Chi có nghĩa là cành trúc bị
lìa khỏi thân, là cành nơi mặt
đất (nên gọi là Ðịa chi).
Ðiạ chi được tính theo lục
khí là 2 x 6=12 . Ðịa chi cũng có
âm dương .
Dương chi : Tý,Dần, Thìn,Ngọ,Thân,Tuất.
Âm chi :Sửu,Mão,Tỵ,Mùi,Dậu,Hợi.
Ngyên tắc phối hợp can chi là
dương hợp dương , âm hợp
âm ,thiên can là cha(cũng có nghĩa
là dương ), đứng trước địa
chi (có nghĩa là âm )đứng sau.
Ta có:
Giáp tý......................
.....................Ất
sửu
Bính dần...............
....................Ðinh
mão . Cứ thế tiếp tục mãi. Song
thiên vì can thiên có 10 , Ðịa
chi có 12, nên một vòng can chi là 60
. Số 60 được gọi là lục
thập hoa giáp , Nguyên tắc dương
kết hợp với dương ,âm kết
hợp với âm là bất di bất dịch,
vì vậy không bao giờ có Giáp sửu
, Mậu dần cả , nguyên tắc kết
hợp này cho phép từ dương tạo
ra dương , từ âm tạo ra âm, trong
60 ngày thì có 30 ngày âm, 30 ngày
dương tạo ra nhịp vận động
của thời gian , tạo ra sự thăng giáng
.
Cách gọi can chi trước tiên là
để chỉ ngày,sau đó vì tính
tiện ích tổng hợp của nó , nó
được dùng gọi giờ , tháng
và năm. Như vậy can chi trở thành
đơn vị thời gian âm lịch . Nếu
có điều kiện để kiệm thì
các nhận xét về bệnh tật của
các con giáp đã nêu ở trên
, cho phép thừa
nhận sự chặt chẽ và khoa học
hệ đếm can chi này .
Ðể hiểu rõ hơn trước
hết ta tìm hiểu ý nghĩa của can
chi . Nguồn gốc của can chi đều từ
cây :
Thiên can:
1.
Giáp=cây cỏ đội đất
nẩy mầm,dương cốt âm bì.
2.
Ất =cây cỏ mới mọc yếu
ớt, cong gập.
3.
Bính=là cán , như mặt trời
sáng chói , mọi vật đều sáng
rõ.
4.
Ðinh=cây cỏ trưởng thành
mạnh mẽ , như người lớn đã
trưởng thành "tráng đinh".
5.
Mậu=rậm rạp ,nghĩa là cây
cỏ phát triển rậm rạp
6.
Ky=là ghi chép. Các con vật từ
cong(Ất) nay đã thẳng dậy, nên
ghi chép lại.
7.
Canh=thay đổi , lúc này là mùa
thu , mùa hái lượm , thu cất,tất
cả hẹn mùa sau.
8.
Tân=là mới muôn vật thay đổi
, hoa quả mới thành . Tân cũng có
thể là hợp chất của kim loại
, là vị cay , quả chuyển vị , vật
thành có vị.
9.
Nhâm=là thai nghén , dương khí
tiềm ẩn trong đất,mọi vật đang
kỳ thụ thai.
10.
Quí=là đỏ ,mọi vật mang
mầm thai đang ẩn tàng, bản thân
thai mầm đang từng bước chuyển
hoá.
Ðịa chi :
1.
Tý=là mầm cây , là hạt
giống cây cỏ đang hút nước
trong đất để nẩy mầm , là
hiện tương hạt trương nước
để khởi đầu một mầm dương
.
2.
Sửu=mầm nảy trong đất , trạng
thái cong queo , đang chờ đội đất
để mọc lên .
3.
Dần=phát triển,từ chỗ uốn
gấp , mầm đón ánh sáng để
đội đất vươn lên .
4.
Mão= rậm tốt , mặt trời từ
phương đông toả sáng rực
rỡ giúp muôn loài sinh trưởng
tươi tốt
5.
Thìn =chấn động,dương khí
tràn về , muôn vật thoả sức
phát triển .
6.
Tỵ=vươn dậy và phát triển
sung mãn , âm khí đã hết , thuần
dương .
7.
Ngọ=muôn vật đã trưởng
thành đầy đủ , dương khí
đầy đặn , mùa gặt hái đã
về .Âm khí đã bắt đầu
hình thành .
8.
Mùi = là vị , quả đã chín
và có vị ngọt .
9.
Thân = thân thể ,vật đã
trưởng thành
10.
Dậu = co lại phát triển bên
ngoài ngừng .
11.
Tuất = diệt cành khô lá úa
héo cây cỏ úa tàn sinh khí không
còn.
12.
Hợi = bóp chết , âm khí tràn
ngập , mọi vật chìm trong chết chóc.
Dùng
can chi để đặt tên các năm
thì gọi là "can chi ký niên"
và cứ 60 lại quay lại quay lại
vòng tròn . Vòng này là vòng
Giáp Tý . Theo truyền thuyết Trung Quốc
thì đến năm 1983 , đã diễn
ra 77 vòng Giáp Tý . Năm 1984 năm Giáp
Tý là vòng xoay thứ 78 . Dùng can chi
để ghi tháng gọi là "can chi ký
nguyệt" can chi để ghi ngày thì
gọi là "can chi ký nhật" . Tên
can chi của tháng gọi là nguyệt kiến
, tên can chi của ngày gọi là nguyệt
sóc .
Ngoài việc phân chia can chi thành
âm dương , người ta còn chia can
chi theo ngũ hành , cụ thể :
| NGŨ
HÀNH |
THIÊN
CAN |
ÐỊA
CHI |
| MỘC
HOẢ
THỔ
KIM
TINH |
Giáp
Ất
Bính
Ðinh
Mậu
Kỷ
Canh
Tân
Nhâm
Quý
|
Dần
Mão
Tỵ
Ngọ
Thìn
Tuất
Sửu
Mùi
Tân
Dậu
Hợi
Tý |
Từ đó cũng có can chi
xung hợp. Cụ thể:
1.Những thiên can hợp nhau:
Giáp hợp
Kỹ Ất hợp Canh
Bính hợp
Tân Ðinh hợp
Nhâm
Mậu hợp Quý
2.Những thiên can xung nhau :
Giáp xung Mậu Ất xung Kỹ
Bính xung Canh Ðinh
xuân Tân
Mậu xung Nhâm Kỷ
xung Quý
Canh xung Giáp Tân
xung Ất
Nhâm xung Bính Quý
xung Ðinh
3.Ðịa chi :
| LỤC
HỢP |
LỤC
XUNG |
|
LỤC
HẠI |
LỤC
TUYỆT |
| Tí
hợp Sửu
Dần
hợp Hợi
Mão
hợp Tuất
Thìn
hợp Dậu
Tí
hợp Thân
Ngọ
hợp Mùi |
Tí
xung Ngọ
Mão
xung Dậu
Sửu
xung Mùi
Dần
xung Thân
Thìn
xung Tuất
Tị
xung Hợi |
Tỵ
hình Thân
Tý
hình Mão
Sửu
hình Tuất
Mùi
hình Thìn
Dần
hình Ngọ
Dậu
hình Hợi |
Sửu
hại Ngọ
Dần
hại Tị
Mão
hại Thìn
Thân
hại Hợi
Dậu
hại Tuất
Tý
hại Mùi
|
Ngọ
tuyệt Hợi
Mão
tuyệt Thân
Dậu
tuyệt Dần
Tý
tuyệt Tị
Thìn
tuyệt Tuất
Tị
tuyệt Sửu |
Thiên
can Ðịa chi còn được đặt
trong quan hệ với cấu trúc cơ thể
, là cách mã hoá các vùng , các
bệnh tật , được xem xét trong
tương quan với màu sắt , phương
vị . Từ đó , chức năng mà
mười hai con giáp đảm nhiệm không
phải nhẹ nhàng . Và cũng do đó
hiểu được mười hai con giáp
giúp cho sự nhận diện cuộc sống
đơn giản hơn , tức là tìm
ra cốt lõi của nó , tìm cách cân
bằng và đảm bảo sự hài
hoà trong cuộc sống .
|